flag

Bắc Kạn

Zip code: 23000
Danh sách nhà xe

Chưa có nhà xe nào tại Bắc Kạn

Thông tin cơ bản

STT
Tên loại dữ liệu
Thông tin
1 Mã bưu chính 23000
2 Biển số xe 97
3 Mã Vùng 209
4 Diện tích (km2) 4859,96
5 Dân số trung bình (Nghìn người) 324,35
Số liệu theo năm 2022

Giới thiệu chung

Bắc Kạn - Tỉnh miền núi vùng Đông Bắc Bộ

Bắc Kạn là một tỉnh thuộc khu vực Đông Bắc Bộ, Việt Nam, với tỉnh lỵ là thành phố Bắc Kạn, cách thủ đô Hà Nội khoảng 162 km.

Vào năm 2018, Bắc Kạn đứng thứ 63 trong số các tỉnh, thành phố của Việt Nam về số dân, tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), GRDP bình quân đầu người và tốc độ tăng trưởng GRDP. Dân số tỉnh Bắc Kạn vào thời điểm này là 327.900 người, GRDP đạt 9.765 tỷ đồng (khoảng 0,4272 tỷ USD), GRDP bình quân đầu người đạt 30 triệu đồng (1.303 USD), và tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 6,20%.

Tên gọi và lịch sử

Theo Nghị quyết của Quốc hội Việt Nam Khóa IX, kỳ họp thứ 10 thông qua ngày 6 tháng 11 năm 1996, tỉnh Bắc Thái được chia thành hai tỉnh: Bắc Kạn và Thái Nguyên. Tuy nhiên, tên gọi "Bắc Cạn" vẫn được một số người sử dụng, cho đến khi TTXVN chính thức thông báo rằng tên đúng là "Bắc Kạn" và không dùng chữ "C". Tên gọi này được khắc trong con dấu chính thức của tỉnh.

Tên Bắc Kạn có nguồn gốc từ từ Hán - Việt "Bắc Cản" (Hán tự: 北扞), theo bia đá tại hòn Bà Góa, hồ Ba Bể, khắc vào thời Khải Định. Từ này sau đó được người Tày - Nùng chuyển thành "Bắc Cạn". Một số tài liệu khác cho rằng tên gọi này xuất phát từ "pác cạm" trong tiếng Tày, có nghĩa là "cửa ngõ" thông qua các tỉnh phía Bắc, hoặc "pác cáp", chỉ nơi giao nhau của các dòng chảy.

Địa lý

Bắc Kạn là tỉnh miền núi cao, với địa hình chủ yếu là các dãy núi vòng cung và thung lũng. Vị trí địa lý của tỉnh như sau:

  • Phía Bắc giáp tỉnh Cao Bằng

  • Phía Đông giáp tỉnh Lạng Sơn

  • Phía Nam giáp tỉnh Thái Nguyên

  • Phía Tây giáp tỉnh Tuyên Quang

Các điểm cực của tỉnh Bắc Kạn:

  • Điểm cực Bắc: xã Bằng Thành, huyện Pác Nặm

  • Điểm cực Đông: xã Cường Lợi, huyện Na Rì

  • Điểm cực Tây: xã Yên Thịnh, huyện Chợ Đồn

  • Điểm cực Nam: xã Quảng Chu, huyện Chợ Mới

Bắc Kạn có thể chia thành ba vùng chính:

  1. Vùng phía Tây và Tây Bắc: Bao gồm các mạch núi thuộc huyện Chợ Đồn, Pác Nặm, Ba Bể, chạy theo hướng vòng cung Tây Bắc – Đông Nam, tạo nên hệ thống sông Cầu. Dãy núi cao nhất là Phja Bjoóc, cao 1.578 m.

  2. Vùng phía Đông và Đông Bắc: Hệ thống núi thuộc cánh cung Ngân Sơn, chạy theo hướng Bắc - Nam, mở rộng thung lũng về phía Đông Bắc.

  3. Vùng trung tâm: Đây là vùng đất thấp nằm giữa dãy núi cao của cánh cung sông Gâm ở phía Tây và cánh cung Ngân Sơn ở phía Đông.

Tổng diện tích tự nhiên của tỉnh Bắc Kạn là 4.859 km². Dân số tỉnh năm 2019 là 313.905 người, bao gồm 7 dân tộc (Tày, Nùng, Kinh, Dao, H'Mông, Hoa và Sán Chay), trong đó dân tộc thiểu số chiếm hơn 80%. Khu vực thành thị chiếm 24,31% dân số, còn lại là khu vực nông thôn chiếm 75,69%. Đây là tỉnh có dân số ít nhất trong cả nước, với tổng dân số khoảng 318.000 người.

Tôn giáo

Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, tỉnh Bắc Kạn có 4 tôn giáo chính với tổng số người theo đạo là 25.156 người. Đạo Tin Lành có số tín đồ nhiều nhất, với 23.110 người. Các tôn giáo khác bao gồm Công giáo (550 người), Phật giáo (520 người) và Tịnh độ cư sĩ Phật hội Việt Nam (3 người).

Vị trí bản đồ

Địa điểm du lịch

Bắc Kạn là một tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú nhờ vào sự đa dạng tài nguyên, khoáng sản, và nền văn hóa đặc sắc của các dân tộc miền núi Đông Bắc Việt Nam.

Hồ Ba Bể, một danh thắng thiên nhiên nổi tiếng, được công nhận là Di tích lịch sử văn hoá Quốc gia vào năm 1996. Năm 2011, UNESCO đã công nhận Ba Bể là khu Ramsar – khu bảo tồn đất ngập nước quan trọng toàn cầu và là một trong 20 hồ nước ngọt đẹp nhất thế giới. Mỗi năm vào tháng Giêng âm lịch, Hội xuân Ba Bể được tổ chức thu hút nhiều du khách.

Căn cứ địa cách mạng ATK Chợ Đồn là một trong những khu căn cứ quan trọng của Chủ tịch Hồ Chí Minh và các lãnh đạo cấp cao của Đảng Cộng sản Việt Nam trong kháng chiến chống thực dân Pháp.

Di tích lịch sử Pò Két, thuộc xã Văn Học, huyện Na Rì, là nơi Phùng Chí Kiên và các nhà cách mạng khác của Đảng tạm trú trong giai đoạn từ 1931 đến 1941 khi hoạt động từ La Hiên, Văn Học đến Ngân Sơn.

Di tích hầm bí mật Dốc Tiệm và Hội trường chữ U, nằm ở phường Phùng Chí Kiên, thành phố Bắc Kạn, là nơi cố tổng bí thư Trường Chinh đã thoát hiểm vào năm 1947 khi đi công tác tại Bắc Kạn.

Chùa Thạch Long, nằm trong một hang núi đá vôi ở xã Cao Kỳ, huyện Chợ Mới, có hai tầng thông với nhau, gọi là tầng Thiên và tầng Âm. Trong kháng chiến chống Pháp, nơi đây được quân đội ta sử dụng làm xưởng sản xuất binh khí.

Thác Roọm, tọa lạc tại xã Quang Thuận, huyện Bạch Thông, là một quần thể thiên nhiên với bãi đá và sông núi thơ mộng. Thác nằm trên con sông Cầu, bị chắn bởi bãi đá dài khoảng một kilomet, là điểm đến lý tưởng cho các hoạt động giải trí như leo núi, cắm trại, và trải nghiệm thiên nhiên.

Khu di tích lịch sử Nà Tu, thuộc xã Cẩm Giàng, huyện Bạch Thông, là nơi Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tặng 4 câu thơ nổi tiếng cho lực lượng thanh niên xung phong vào năm 1951: "Không có việc gì khó/ Chỉ sợ lòng không bền/ Đào núi và lấp biển/ Quyết chí ắt làm nên".

Ngoài ra, Bắc Kạn còn có nhiều danh thắng nổi tiếng khác như động Puông, động Hua Mạ, động Nàng Tiên, Phya Khao, thác Nà Đăng, động Nả Phoòng, động Ba Cửa, hang Sơn Dương và khu bảo tồn thiên nhiên Kim Hỷ, tất cả đều là những điểm đến hấp dẫn cho du khách yêu thích khám phá thiên nhiên và văn hóa

Văn hoá

Các Dân Tộc và Văn Hóa ở Bắc Kạn

Bắc Kạn là nơi sinh sống của 7 dân tộc (Tày, Nùng, Kinh, Dao, Hoa, Mông, Sán Chay), trong đó dân tộc Tày chiếm số đông. Các dân tộc Tày, Nùng, Kinh, Hoa thường tập trung sinh sống ở các thôn, bản vùng đồi thấp, ven các trục đường chính và khu vực các huyện lỵ, tỉnh lỵ. Trong khi đó, dân tộc Dao, Mông và các dân tộc khác lại sống phân tán ở các vùng núi cao. Cộng đồng các dân tộc ở Bắc Kạn vẫn bảo tồn và phát huy nhiều giá trị văn hóa truyền thống.

Nếp Nhà Sàn và Ngôn Ngữ

Nếp nhà sàn truyền thống của dân tộc Tày, Nùng và Sán Chay có những đặc điểm riêng biệt. Những ngôi nhà thường có 3 gian với 16 cột, có thể thêm 2 chái, hoặc những gia đình khá giả hơn xây dựng nhà sàn với 4-5 gian và hàng chục cây cột lớn nhỏ. Nhà sàn ở Bắc Kạn thường có từ 5 đến 7 cột, với cây cột chống nóc, được làm từ các loại gỗ như rồm (dổi), rào (chò chỉ), sao, quẻ, và đôi khi là các loại gỗ quý như nghiến, sến, táu. Hướng nhà thường được chọn sao cho tựa lưng vào núi, tạo sự bao bọc vững chắc. Nhà sàn không chỉ có giá trị kiến trúc sinh thái thân thiện với môi trường mà còn chứa đựng nhiều giá trị văn hóa. Tại đây, con cháu có thể nghe ông bà kể chuyện, truyền dạy những bài học về đạo làm người, phong tục và tập quán, giúp bảo tồn những giá trị văn hóa quý báu.

Về ngôn ngữ, tiếng Tày, do dân tộc Tày chiếm đa số, là ngôn ngữ chính bên cạnh tiếng Việt. Trong suốt quá trình định cư và giao thoa văn hóa, tiếng Tày đã được bổ sung nhiều từ vựng từ các ngôn ngữ khác như Hán-Việt, tạo nên một hệ từ vựng phong phú. Tiếng Tày đóng vai trò quan trọng trong đời sống hàng ngày và là công cụ giao tiếp chủ yếu trong cộng đồng. Bên cạnh đó, chữ Nôm Tày, phát triển từ chữ Hán, có vai trò lịch sử lớn trong việc lưu giữ và phát triển văn hóa dân tộc. Chữ Nôm Tày đã ghi lại nhiều tác phẩm văn học dân gian, bao gồm truyện thơ, dân ca, lời hát Then, cũng như các bài hát nghi lễ trong đám tang, đám cưới, góp phần bảo tồn những giá trị văn hóa của dân tộc Tày.

Các Loại Hình Nghệ Thuật Tiêu Biểu

Bắc Kạn có nhiều loại hình nghệ thuật truyền thống, trong đó hát then, đàn tính là đặc trưng của dân tộc Tày và Nùng. Đây là loại dân ca mang đậm màu sắc tín ngưỡng, kết hợp hát, múa và diễn trò. Then, theo tiếng Tày, có nghĩa là "trời", là điệu hát được cho là do thần tiên truyền lại và thường được sử dụng trong các lễ cầu an, cầu mùa, gọi hồn, chữa bệnh. Mỗi bài hát then không chỉ mang giá trị tâm linh mà còn chứa đựng nhiều câu chuyện dân gian giáo dục sâu sắc.

Hát Páo dung là một loại hình nghệ thuật đặc trưng của người Dao ở Bắc Kạn. Các làn điệu Páo dung mang màu sắc trữ tình, nhẹ nhàng và có sức lôi cuốn mạnh mẽ. Nội dung hát Páo dung rất đa dạng, từ ca ngợi tình yêu quê hương, đất nước, tình yêu đôi lứa, cho đến phê phán các thói hư tật xấu trong xã hội.

Hát Lượn là một phần quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của người Tày, Nùng ở Bắc Kạn. Các thể loại hát lượn như lượn cọi, lượn Slương, và lượn Nàng ới mang đậm giá trị văn hóa, ca ngợi quê hương, đất nước, và tình yêu đôi lứa. Các bài hát Lượn thể hiện sự trân trọng đối với cảnh vật thiên nhiên, con người và cuộc sống.

Hát thơ lẩu là một phong tục hát đối đáp giữa đại diện nhà trai và nhà gái trong lễ cưới của người Tày, Nùng. Khác với các loại hát khác, thơ lẩu không phải hát giao duyên mà diễn tả phong tục, nghi lễ trong đám cưới. Đây là một phần không thể thiếu trong các đám cưới truyền thống của dân tộc Tày, Nùng.

Hát Sli, đặc biệt là điệu Sli Giang của người Nùng ở Bắc Kạn, thể hiện rõ nét tâm hồn và truyền thống văn hóa của cộng đồng Nùng. Hát Sli không chỉ mang giá trị nghệ thuật mà còn là phương tiện để thể hiện tình cảm và nguyện vọng của con người qua các hình ảnh cụ thể.

Mỗi dân tộc ở Bắc Kạn đều có những nét văn hóa độc đáo và đặc trưng riêng, đóng góp vào sự phong phú và đa dạng của bản sắc văn hóa dân tộc Việt Nam.

Kinh Tế

Bắc Kạn, một tỉnh vùng núi cao với địa hình phức tạp và nền kinh tế còn nhiều khó khăn, đã có những bước tiến đáng kể trong những năm gần đây. Năm 2011, tỉnh đạt được các chỉ tiêu kinh tế ấn tượng: tổng giá trị gia tăng ước đạt 1.477.155 triệu đồng, tăng 13% so với năm trước. Trong đó, khu vực nông lâm ngư nghiệp đóng góp 551.839 triệu đồng, khu vực công nghiệp - xây dựng đạt 298.426 triệu đồng, và khu vực dịch vụ đạt 626.890 triệu đồng. Thu nhập bình quân đầu người đạt 14,6 triệu đồng, tăng 2,7 triệu đồng so với năm trước.

Cơ cấu kinh tế của Bắc Kạn bao gồm: khu vực nông lâm nghiệp chiếm 42%, công nghiệp - xây dựng chiếm 14,2%, và dịch vụ chiếm 43,8%. So với năm trước, khu vực nông lâm nghiệp tăng 3,5%, khu vực công nghiệp - xây dựng giảm 3%, và khu vực dịch vụ tăng 0,4%. Tỉnh đã hoàn thành chương trình hỗ trợ nhà ở cho hộ nghèo theo quyết định của Chính phủ, với 2.601/2.629 nhà được xây dựng trong hơn 2 năm triển khai.

Bắc Kạn có tiềm năng phát triển các ngành công nghiệp khai thác và chế biến khoáng sản, vật liệu xây dựng, nông lâm nghiệp và du lịch. Tuy nhiên, trong bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2020, Bắc Kạn xếp ở vị trí 59/63 tỉnh thành.