Chưa có nhà xe nào tại Điện Biên
STT
|
Tên loại dữ liệu
|
Thông tin
|
1 | Mã bưu chính | 32000 |
2 | Biển số xe | 27 |
3 | Mã Vùng | 215 |
4 | Diện tích (km2) | 9539,93 |
5 | Dân số trung bình (Nghìn người) | 633,98 |
Số liệu theo năm 2022
|
||
Tên gọi "Điện Biên" là phiên âm Hán Việt của "奠邊", do vua Thiệu Trị đặt vào năm 1841, xuất phát từ châu Ninh Biên. "Điện" có nghĩa là vững chãi, còn "Biên" chỉ vùng biên giới hoặc biên ải. Từ đó, "Điện Biên" mang nghĩa là miền biên cương vững chắc. Phủ Điện Biên (hay Điện Biên Phủ) thời vua Thiệu Trị gồm 3 châu: Ninh Biên (do phủ kiêm lý), Tuần Giáo và Lai Châu. Tên gọi Điện Biên hay Điện Biên Phủ bắt đầu xuất hiện từ thời kỳ này.
Tỉnh Điện Biên nằm ở rìa phía Tây khu vực Tây Bắc Việt Nam, có tọa độ địa lý từ 20°54’ đến 22°33’ vĩ độ Bắc và từ 102°10' đến 103°36' kinh độ Đông. Tỉnh cách thủ đô Hà Nội 504 km về phía Tây và có vị trí giáp ranh với các tỉnh và quốc gia như:
Phía đông giáp tỉnh Sơn La
Phía tây giáp tỉnh Phôngsali của Lào
Phía nam giáp tỉnh Luang Prabang của Lào
Phía bắc giáp tỉnh Lai Châu và tỉnh Vân Nam của Trung Quốc
Điện Biên là tỉnh duy nhất có chung đường biên giới với hai quốc gia là Lào và Trung Quốc, với tổng chiều dài biên giới hơn 400 km: giáp Lào dài 360 km và giáp Trung Quốc dài 40,86 km.
Cực Bắc: xã Sen Thượng, huyện Mường Nhé
Cực Tây: bản A Pa Chải, xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé
Cực Đông: xã Ta Ma, huyện Tuần Giáo
Cực Nam: xã Mường Lói, huyện Điện Biên
Điện Biên có địa hình chủ yếu là đồi núi dốc và hiểm trở, với các dãy núi dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, độ cao thay đổi từ 200 m đến hơn 1.800 m. Địa hình có độ dốc lớn và thấp dần từ Bắc xuống Nam, đồng thời nghiêng từ Tây sang Đông. Các đỉnh núi cao như Pu Đen Đinh (1.886 m) và các điểm cao khác như ở huyện Mường Nhé. Xen lẫn với dãy núi cao là những thung lũng và các dòng suối nhỏ. Cánh đồng Mường Thanh, rộng hơn 150 km², là cánh đồng lớn và nổi tiếng nhất của tỉnh và khu vực Tây Bắc.
Điện Biên có lịch sử phát triển địa chất lâu dài và cấu trúc kiến tạo phức tạp. Sau pha ổn định trong thế Pliocen và kỷ Đệ Tứ, các dãy núi phân cách được hình thành. Quá trình đào xẻ lòng đất dẫn đến sự hình thành các thung lũng sâu với các sườn dốc và vách đá đứng, nhiều thác ghềnh.
Đất đai ở Điện Biên chủ yếu là đất đỏ vàng (629.806,26 ha), đất đen và đất phù sa (12.622,13 ha) tại thung lũng Mường Thanh.
Điện Biên là nơi giao nhau của một số đứt gãy lớn như: đứt gãy sông Đà, đứt gãy sông Mã, đứt gãy Điện Biên – Lai Châu và đứt gãy Sơn La. Đặc biệt, đứt gãy Lai Châu – Điện Biên tách giãn mạnh, tạo ra các vùng trượt lở và lũ bùn đá. Các đứt gãy này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc phân bố khoáng sản ở Điện Biên.
Điện Biên sở hữu nguồn tài nguyên khoáng sản đa dạng, bao gồm các loại như nước khoáng, than mỡ, đá vôi, đá đen, đá granit, sắt, chì, kẽm, nhôm, đồng và thủy ngân. Các trữ lượng than, vật liệu sản xuất (xi măng) và nước khoáng có thể khai thác quy mô lớn. Hiện tại, tỉnh có khoảng 83 mỏ và điểm mỏ khoáng sản. Các khoáng sản như than mỡ tập trung ở huyện Điện Biên và Điện Biên Đông, trong khi các khoáng sản khác như chì, kẽm, sắt, đồng, antimon phân bố ở các huyện khác nhau như Tuần Giáo, Tủa Chùa, Mường Chà, và Điện Biên Đông.
Điện Biên là một tỉnh có tiềm năng du lịch phong phú, đặc biệt nổi bật với các giá trị văn hóa và lịch sử. Một trong những điểm đến quan trọng là hệ thống di tích lịch sử liên quan đến chiến dịch Điện Biên Phủ, bao gồm: Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ (Mường Phăng), các cứ điểm Him Lam, Bản Kéo, Độc Lập, các đồi A1, C1, E1 và khu trung tâm tập đoàn cứ điểm của Pháp (hầm Đờ-cát Tơ-ri). Một địa danh khác thu hút khách du lịch là thành Bản Phủ và đền thờ Hoàng Công Chất.
Ngoài các di tích chiến tranh, Điện Biên còn sở hữu các công trình kỷ niệm chiến thắng Điện Biên Phủ. Tượng đài chiến thắng được khánh thành vào ngày 30 tháng 4 năm 2004 tại đồi D1, nhân dịp kỷ niệm 50 năm chiến thắng. Bảo tàng chiến thắng Điện Biên Phủ cũng được mở cửa vào ngày 5 tháng 5 năm 2014, tại thành phố Điện Biên Phủ, đánh dấu kỷ niệm 60 năm chiến thắng.
Bên cạnh các giá trị lịch sử, Điện Biên còn có nhiều danh lam thắng cảnh tự nhiên như rừng nguyên sinh Mường Nhé, các hang động Pa Thơm (huyện Điện Biên), Thẩm Púa (huyện Tuần Giáo), suối khoáng nóng Hua Pe, U Va, và các hồ nước như Pá Khoang, Pe Luông. Những điểm đến này tạo thành tài nguyên du lịch thiên nhiên phong phú của tỉnh.
Theo thống kê của Sở Văn hóa – Thể thao – Du lịch tỉnh Điện Biên, trong 6 tháng đầu năm 2018, lượng khách du lịch đến Điện Biên ước đạt 490 nghìn lượt, tăng hơn 50% so với cùng kỳ năm 2017. Trong đó, khách quốc tế đạt 94 nghìn lượt, tăng 72% so với năm trước. Tổng thu từ du lịch ước đạt 643,7 tỷ đồng, tăng gần 50% so với năm 2017.
Nền ẩm thực Điện Biên chịu ảnh hưởng không nhỏ từ ẩm thực vùng Tây Bắc, với nhiều món ăn đặc sắc và phong phú. Ngoài các món ăn quen thuộc như phở, bánh cuốn, và bún chả, Điện Biên còn nổi bật với những đặc sản riêng biệt.
Gạo Điện Biên có hai loại chính là IR64 (gạo tám Điện Biên) và Bắc thơm số 7 (gạo tám thơm Điện Biên), sản xuất hàng chục nghìn tấn mỗi năm tại cánh đồng Mường Thanh. Gạo tám Điện Biên có hạt nhỏ, căng bóng, cơm dẻo như cơm nếp và thơm nhẹ, khi ăn có vị đậm đà. Cơm lam, món ăn đặc trưng của vùng núi, được nấu bằng ống tre với gạo nếp nương. Một biến thể thú vị là cơm lam ngũ sắc, có năm màu khác nhau.
Ngoài ra, sâu chít là đặc sản phổ biến, thường được dùng để ăn, nấu cháo hoặc ngâm rượu. Các gia vị đặc trưng của Điện Biên gồm hạt mắc khén, chẳm chéo và hạt dổi. Một số món ăn nổi tiếng khác bao gồm thịt trâu gác bếp, vịt om hoa chuối, khẩu xén, nậm pịa, xôi chim, pa pỉnh tộp, cùng các món đặc sản như táo mèo Pha Đin, bánh chưng đen Huổi Só, rượu mông pê Tủa Chùa, và nhiều món khác.
Điện Biên tổ chức nhiều lễ hội lớn, trong đó nổi bật nhất là lễ hội hoa ban và lễ hội thành Bản Phủ. Lễ hội hoa ban diễn ra vào giữa tháng 3 hàng năm, nhằm giới thiệu và bảo tồn các di sản văn hóa dân tộc của tỉnh. Lễ khai mạc được tổ chức tại quảng trường 7 – 5, với các hoạt động như cuộc thi Người đẹp hoa ban, diễu hành đường phố Đêm hội hoa ban, và các chương trình nghệ thuật. Lễ hội cũng có các cuộc thi thể thao, trò chơi dân gian, triển lãm tranh, và thăm các di tích chiến trường Điện Biên Phủ.
Lễ hội thành Bản Phủ tổ chức vào ngày 24 và 25 tháng 2 âm lịch để tưởng nhớ thủ lĩnh Hoàng Công Chất, người đã giải phóng Mường Then – Điện Biên khỏi sự chiếm đóng của giặc Phẻ.
Điện Biên cũng đã đăng cai nhiều sự kiện lớn như Ngày hội Văn hóa, thể thao và Du lịch vùng biên giới Việt Nam – Lào, Ngày hội Văn hóa Dân tộc Thái, và Năm du lịch Quốc gia 2004. Các cuộc đua xe đạp từ Hà Nội về Điện Biên Phủ cũng là một trong những sự kiện đáng chú ý.
Ngoài các lễ hội lớn, tỉnh còn tổ chức nhiều nghi lễ, tập tục đặc sắc của các dân tộc như lễ hội Hạn Khuống của người Thái, Tết cơm mới của người La Hủ, và Tết Hoa của dân tộc Cống.
Múa xoè là một trong những điệu múa đặc trưng và phổ biến nhất trong các hoạt động văn hóa của Điện Biên. Điệu múa này không chỉ thể hiện sự khéo léo của các đôi nam nữ mà còn mang ý nghĩa sâu sắc về sự ấm no, mùa màng bội thu và sự kết nối tình cảm trong cộng đồng. Múa xoè vòng, dễ học và tham gia, thường được chọn làm tiết mục kết thúc trong các chương trình văn nghệ. Các lớp tập huấn và truyền dạy nghệ thuật múa xoè đã được tổ chức tại Điện Biên nhằm bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa này.
Kinh tế của Điện Biên thuộc nhóm trung bình. Tỉnh này đối mặt với nhiều khó khăn do địa hình đồi núi chia cắt, khiến nông nghiệp không phải là thế mạnh chính. Hiện tại, Điện Biên đang tập trung phát triển công nghiệp và du lịch. Trong bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) của Việt Nam năm 2020, Điện Biên đứng thứ 46 trong số 63 tỉnh, thành phố. Vào năm 2018, tỉnh xếp thứ 60 về tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) với 15.750 tỷ đồng (khoảng 0,684 tỷ USD), thứ 61 về GRDP bình quân đầu người đạt 27,31 triệu đồng (1.186 USD), và thứ 49 về tốc độ tăng trưởng GRDP với mức tăng 7,15%.
Dự báo tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) theo giá so sánh năm 2016 của tỉnh đạt 9.223,2 tỷ đồng. Trong đó, khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản tăng trưởng 3,56%, công nghiệp – xây dựng tăng 6,07%, và dịch vụ tăng 8,64%. Cơ cấu kinh tế của tỉnh tiếp tục chuyển dịch rõ rệt: khu vực nông – lâm nghiệp và thủy sản chiếm 23,77%, giảm 1,08%; công nghiệp – xây dựng chiếm 25,29%, tăng 0,03%; dịch vụ chiếm 48,48%, tăng 1,04% so với năm 2015. Thu nhập bình quân đầu người ước đạt 22,31 triệu đồng/người/năm, tăng 7,87% so với năm trước.