Chưa có nhà xe nào tại Kon Tum
STT
|
Tên loại dữ liệu
|
Thông tin
|
1 | Mã bưu chính | 60000 |
2 | Biển số xe | 82 |
3 | Mã Vùng | 260 |
4 | Diện tích (km2) | 9677,3 |
5 | Dân số trung bình (Nghìn người) | 579,91 |
Số liệu theo năm 2022
|
||
Kon Tum là tỉnh nằm ở khu vực phía bắc của Tây Nguyên, Việt Nam.
Vào năm 2018, Kon Tum đứng thứ 61 trong các tỉnh, thành phố Việt Nam về số dân, xếp thứ 59 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), thứ 53 về GRDP bình quân đầu người, và đứng thứ 28 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Dân số của tỉnh là 535.000 người, với GRDP đạt 20.057 tỷ Đồng (tương đương 0,8711 tỷ USD).
Tỉnh lỵ của Kon Tum là thành phố Kon Tum, nằm cách Thành phố Hồ Chí Minh 654 km về phía Bắc, cách Đà Nẵng 320 km về phía Nam và cách thủ đô Hà Nội 1.095 km về phía Bắc. Kon Tum nằm ở ngã ba Đông Dương, chủ yếu thuộc khu vực phía Tây dãy Trường Sơn, có vị trí địa lý:
Phía Bắc giáp tỉnh Quảng Nam.
Phía Nam giáp tỉnh Gia Lai.
Phía Đông giáp tỉnh Quảng Ngãi.
Phía Tây giáp các tỉnh Sekong, Attapeu của Lào và Ratanakiri của Campuchia.
Địa hình Kon Tum chủ yếu là đồi núi, chiếm khoảng 2/5 diện tích tỉnh, với những dãy núi liên tiếp có độ dốc lớn. Khu vực này có địa hình núi cao liên tục, đặc biệt là khu vực phía Bắc và Tây Bắc, chạy dọc sang phía Đông tỉnh. Những cảnh quan tại Kon Tum mang nét đặc trưng của tiểu vùng, với sự kết hợp hài hòa giữa gò đồi, núi, cao nguyên và những vùng trũng. Độ cao trung bình của tỉnh là từ 500 đến 700 mét, trong khi khu vực phía Bắc có độ cao từ 800 đến 1.200 mét. Đỉnh Ngọc Linh, với độ cao 2.596 mét, là điểm cao nhất của tỉnh.
Khí hậu Kon Tum có đặc điểm chung của vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa phía Nam Việt Nam, nhưng lại mang những nét riêng của khí hậu cao nguyên. Tỉnh có hai mùa rõ rệt: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 11, trong khi mùa khô bắt đầu từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Lượng mưa trung bình hàng năm khoảng 2.121 mm, với lượng mưa cao nhất là 2.260 mm và thấp nhất là 1.234 mm. Ba tháng 7, 8 và 9 có lượng mưa cao nhất trong năm.
Về hướng gió, vào mùa khô, gió chủ yếu thổi từ hướng đông bắc, còn vào mùa mưa, gió thường từ hướng tây nam. Nhiệt độ tại Kon Tum có sự chênh lệch rõ rệt giữa các khu vực. Khu vực miền núi cao phía Đông Bắc, bao gồm các huyện Kon Plong, Tu Mơ Rông và Đăk Glei, có khí hậu mát mẻ và ôn hòa. Trong khi đó, các khu vực thấp hơn như huyện Ia H'Drai, Sa Thầy và thung lũng thành phố Kon Tum có thời tiết nóng bức và oi ả hơn.
Sông Đăk Bla
Dòng sông Đăk Bla không chỉ cung cấp nước và phù sa quý giá cho sản xuất nông nghiệp của người dân mà còn trở thành một điểm du lịch nổi tiếng thu hút du khách gần xa khi đến Kon Tum. Dòng sông như một dải lụa mềm mại vắt ngang qua thành phố Kon Tum, tạo nên một điểm nhấn ấn tượng giữa lòng thành phố.
Nhà Rông Kon Klor – Nhà Rông Lớn Nhất Tây Nguyên
Nhà Rông Kon Klor tọa lạc tại vị trí đẹp, với con đường Trần Hưng Đạo rộng rãi và thẳng tắp ngay trước mặt. Phía bên phải là cây cầu treo duyên dáng và những cánh đồng mía xanh mướt xung quanh. Nhà Rông được xây dựng theo kiểu truyền thống, với chất liệu gỗ, tre, nứa, tranh, lá và các họa tiết trang trí tinh xảo. Các nghệ nhân và người dân làng Kon Klor đã hợp tác để giữ gìn những nét đặc trưng, làm cho nhà rông trở thành biểu tượng tự hào của người Ba Na với mái nhà cao vút, vững chãi, như điểm tựa cho hồn làng.
Cầu Treo Kon Klor
Cầu Treo Kon Klor, nối liền hai bờ sông Đăk Bla, là một trong những địa điểm du lịch không thể bỏ qua khi đến Kon Tum. Từ cây cầu, du khách có thể chiêm ngưỡng cảnh quan làng mạc, đồng lúa, ruộng ngô, và bãi mía bao quanh, cùng dòng sông chảy hiền hòa dưới chân cầu, mang đến cảm giác thư thái và bình yên.
Ngục Kon Tum
Ngục Kon Tum, một di tích lịch sử quan trọng, nằm cuối con đường Trương Quang Trọng, phường Quyết Thắng, thành phố Kon Tum. Được xây dựng từ năm 1905 bởi thực dân Pháp, mục đích là giam giữ các chiến sĩ cách mạng, công trình này hoàn thành vào năm 1917. Du khách đến đây sẽ được tham quan khu di tích gồm nhà truyền thống, nhà tưởng niệm, nhà đón tiếp, tượng đài bất khuất, và hai ngôi mộ tập thể bên bờ sông Đăk Bla. Ngục Kon Tum đã trở thành một địa điểm viếng thăm quen thuộc của nhiều đoàn khách trong và ngoài nước.
Nhà Thờ Gỗ
Nhà thờ gỗ Kon Tum là một kiệt tác kiến trúc độc đáo, kết hợp giữa phong cách Roman và kiểu nhà sàn của người Ba Na, mang đậm nét văn hóa tín ngưỡng Tây Nguyên. Công trình bao gồm giáo đường, nhà trưng bày sản phẩm dân tộc và tôn giáo, nhà rông, cùng các cơ sở như mộc, dệt thổ cẩm, và may mặc, tạo nên một không gian vừa linh thiêng, vừa đậm đà bản sắc văn hóa dân tộc.
Chùa Bác Ái
Chùa Bác Ái, được xây dựng vào năm 1932 trên một ngọn đồi hoang vu, là một công trình tâm linh quan trọng của Kon Tum. Chùa được vua Bảo Đại sắc phong "Sắc tứ Bác Ái tự" và có hai câu đối do chính vua tặng, khắc trên hai cột trước Đại hùng bửu điện. Đây là một địa điểm hành hương nổi tiếng với những câu chuyện lịch sử thú vị.
Khu Du Lịch Sinh Thái Măng Đen
Măng Đen, nằm cách thành phố Kon Tum khoảng 50km về phía Đông, nổi tiếng với khí hậu mát mẻ quanh năm, cùng suối đá, hồ thác và cảnh quan thiên nhiên hấp dẫn. Nơi đây được mệnh danh là "Đà Lạt thứ hai" của Việt Nam. Du khách đến Măng Đen còn có cơ hội tham quan tượng Đức Mẹ Sầu Bi, một công trình kiến trúc gắn liền với lịch sử kháng chiến chống Pháp, và tham gia ngày hành hương Đức Mẹ Măng Đen diễn ra vào tháng 9 hàng năm.
Vườn Quốc Gia Chư Mom Ray
Vườn quốc gia Chư Mom Ray, nằm ở hai huyện Ngọc Hồi và Sa Thầy, cách thành phố Kon Tum khoảng 30km, là khu vực có sự đa dạng sinh học cao nhất trong các vườn quốc gia ở Việt Nam. Đây là nơi sinh sống của nhiều dân tộc ít người, như Rờ Mâm, K’Dong, Gia Rai, và đặc biệt là Bơ Râu. Chư Mom Ray là điểm đến lý tưởng cho những ai yêu thích khám phá thiên nhiên hoang sơ và tìm hiểu văn hóa các dân tộc bản địa.
Ngã Ba Đông Dương
Ngã Ba Đông Dương là nơi gặp nhau của ba quốc gia Việt Nam, Lào và Campuchia. Được biết đến qua câu chuyện "một con gà gáy, cả ba nước cùng nghe", ngã ba này là một điểm đến kỳ thú với cảnh quan núi đồi trùng điệp tuyệt đẹp. Mặc dù hành trình đến đây có phần gian nan, nhưng du khách sẽ được chiêm ngưỡng vẻ đẹp hoang sơ của Tây Nguyên.
Tòa Giám Mục
Tòa Giám Mục Kon Tum, xây dựng vào năm 1935, là sự kết hợp giữa kiến trúc truyền thống của dân tộc và phong cách phương Tây. Đặc biệt, tòa giám mục nổi bật với căn phòng truyền thống, nơi trưng bày các vật dụng sinh hoạt và nông cụ của các dân tộc sinh sống tại Kon Tum. Đây là một điểm đến thú vị cho những ai muốn tìm hiểu về đời sống và văn hóa của người dân Tây Nguyên.
Kon Tum có 6 dân tộc bản địa sinh sống lâu đời gồm : tộc người Xơ Đăng đông nhất cư trú phần lớn ở phía bắc và phía đông thuộc các huyện Tu Mơ Rông, Đăk Tô, KonPLông…Tộc người Ba Na cư trú ở phía nam thuộc thị xã Kon Tum, huyện Kon Rẫy, Đăk Hà. Tộc người Giẻ Triêng cư trú ở 2 huyện ĐăkGLei và Ngọc Hồi. Tộc người Gia Rai cư trú ở huyện Sa Thầy và thành phố Kon Tum. Hai tộc người có dân số ít nhất là Brâu cư trú trong một làng ( làng Đăk Mế xã Bờ Y) huyện Ngọc Hồi và tộc người Rơ Măm cư trú tại một làng ( làng Le xã Mô Rai) ở huyện Sa Thầy.
Kon Tum là một vùng đất đậm đặc về văn hóa dân gian truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số. Hệ thống di sản văn hóa vật thể và phi vật thể rất phong phú, độc đáo mang bản sắc đặc thù, thể hiện ở các loại hình như : văn hóa luật tục, văn hóa cư trú, nhà rông – nhà dài, văn hóa cồng chiêng và nhạc cụ dân tộc, diễn xướng dân gian, các loại hình nghệ thuật dân gian truyền thống, văn hóa ẩm thực, văn hóa trang phục, ngôn ngữ-chữ viết, chạm khắc-hoa văn, họa tiết, dệt thổ cẩm, đan lát...Trong đời sống cộng đồng, các loại hình văn hóa dân gian có ý nghĩa cực kỳ quan trọng nhằm để tự phục vụ cho đời sống tinh thần và tâm linh của mình. Đó chính là những sáng tạo vô cùng quí báu của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum.
Cũng như các tỉnh khác của Tây Nguyên, sự sáng tạo nên các giá trị truyền thống và đặc thù văn hóa cộng đồng ở Kon Tum cũng đều bắt nguồn từ văn hóa rừng. Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, rừng là tất cả, là toàn bộ cuộc sống, là không gian và thời gian sinh tồn của họ.
Nói về nguồn cội xa xưa, từ năm 1999 - 2000, Kon Tum đã tìm thấy và khai quật di chỉ khảo cổ Lung Leng và di chỉ khảo cổ vùng lòng hồ Thủy điện PleiKRông với hàng chục ngàn hiện vật hết sức giá trị, phục vụ công tác nghiên cứu khoa học và tham quan tìm hiểu về văn hóa tiền sử Kon Tum nói riêng và Tây Nguyên nói chung. Tổ chức khai quật 2 đợt vào năm 1999 và năm 2001, Di chỉ khảo cổ Lung Leng với hơn 14 ngàn hiện vật thuộc các giai đoạn: hậu kỳ đá cũ (2-3 vạn năm), hậu kỳ đá mới sơ kỳ kim khí (cách đây 2-3 ngàn năm) đánh dấu một bước hết sức quan trọng về khảo cổ học ở Kon Tum, như ý kiến nhận xét của các nhà khoa học Viện khảo cổ Việt nam : “Di chỉ Lung Leng mang một ý nghĩa cực kỳ quan trọng không những là di chỉ khảo cổ học đầu tiên được phát hiện ở Kontum mà còn là di chỉ khảo cổ học lớn nhất Tây Nguyên, đồng thời cũng là một trong những di chỉ lớn nhất cả nước. Đã đến lúc chúng ta cần thay đổi cách nhìn nhận về một Kontum, một Tây nguyên miền Thượng thời quá khứ, phải nhận định rằng, đây là một vùng đất sớm có sự khai phá của con người và trong quá trình phát triển văn hóa lịch sử, đây là vùng đất năng động, sáng tạo và có mối giao lưu rộng mở...”.
Một loại hình văn hóa dân gian độc đáo : Sử thi, tưởng chừng chỉ có ở nam Tây Nguyên, nhưng không phải vậy. Từ khi triển khai thực hiện Dự án Quốc gia điều tra sưu tầm về Sử thi các dân tộc thiểu số năm 2000-2001, đã phát hiện ra hệ thống sử thi liên hoàn rất có giá trị của dân tộc Ba Na Rơ Ngao và dân tộc Xơ Đăng SơĐRá ở Kon Tum, từ năm 2002 đến năm 2004 đã hoàn thiện công tác sưu tầm để biên dịch và tiến hành xuất bản phát hành các tác phẩm Sử thi dân tộc Ba Na Rơ Ngao và Xơ Đăng SơĐRá ở Kon Tum trong năm 2005 và 2006 phục vụ công tác nghiên cứu và giới thiệu về bản sắc văn hóa độc đáo do đồng bào các dân tộc thiểu số sáng tạo ra.
Qua khảo sát trực tiếp trên địa bàn tỉnh trong Dự án quốc gia thì Kon Tum có khoảng 200 tác phẩm sử thi của các dân tộc Ba Na, Xơ Đăng, Gia Rai. Hiện có khoảng 26 người có khả năng hát kể được từng phần của sử thi dân tộc mình. Trong đó có 5 nghệ nhân có khả năng thể hiện nghệ thuật hát kể một cách khá đầy đủ loại hình di sản quí hiếm này và có 3 nghệ nhân đã được Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam phong tặng danh hiệu Nghệ nhân dân gian.
Bằng thể loại văn vần dài hàng ngàn câu, với những tuyến nhân vật đan xen nhau thể hiện những giai đoạn lịch sử tiêu biểu của dân tộc mình. Có vùng thì chỉ hát kể, có vùng thì vừa hát kể vừa kèm theo diễn xuất rất linh hoạt và thu hút. Thông qua đó người nghe nhận biết được quan niệm về sự ra đời của đất, trời, của con người, tâm linh tín ngưỡng, mối quan hệ trong cộng đồng, phong tục tập quán, sự hình thành và phát triển đời sống xã hội…được trình diễn một cách rất hấp dẫn, kết cấu chặt chẽ, có chương có đoạn, có mở có kết rất tài tình. Là sự thể hiện về khát vọng của đồng bào về một xã hội tươi đẹp, một cuộc sống đủ đầy, bình đẳng, cái thiện thắng cái ác…Nghệ thuật hát kể Sử thi thu hút rất đông người nghe, đặc biệt trong dịp nông nhàn, lễ hội, mùa mưa trong không gian nhà rông hoặc nhà dài, bên cạnh bếp lửa lung linh, huyền ảo và kỳ bí.
Dân ca là một kết quả tuyệt vời của sự sáng tạo trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum. Cũng như các tỉnh bạn trong khu vực, các tộc người ở Kon Tum sáng tạo ra nhiều thể loại dân ca rất phong phú, nghệ thuật diễn xướng khá đặc sắc, đi vào lòng người. Các thể loại dân ca tiêu biểu như hát ru, hát giao duyên, sinh hoạt, phong tục, lễ hội…thông qua các kiểu: hát nói, hát có tiết tấu, diễn xướng nhất là dân ca giao duyên, đối đáp, hát ru… nhiều làn điệu rất đặc sắc như Tin Tin, Rơ Nghê của tộc người Xơ Đăng, Ba Na hay KĐọ của tộc người Giẻ Triêng…rất giống với nghệ thuật hát Ei Rei dân ca Ê Đê (Đăk Lăk) sâu lắng, mượt mà, tha thiết và thời gian thể hiện rất dài, có nhạc cụ đệm như đàn Tơ Rưng, đàn KlôngPut, Ting Ning, Goong…lời ca thường có vần điệu khá chặt chẽ, nhịp điệu hài hòa, ngôn ngữ đối xứng dễ thuộc, dễ nhớ, gieo vần linh hoạt.
Dân ca gắn bó chặt chẽ với cuộc sống của đồng bào, có sức sống mạnh mẽ trong cộng đồng. Hiện nay sinh hoạt hát dân ca cùng với các loại nhạc cụ dân tộc được đồng bào duy trì thường xuyên và phát triển rất mạnh ở các bản làng, được lưu giữ và truyền dạy rất kỹ và có mặt ở tất cả các sinh hoạt dân gian, từ gia đình đến cộng đồng, lứa tuổi thanh thiếu niên đã tiếp cận và thích nghi với loại hình nghệ thuật dân gian này. Đồng thời ở các cấp đã phát triển nâng cao thành các liên hoan và hội thi trình diễn dân ca và nhạc cụ dân tộc từ cấp xã đến cấp huyện và cấp tỉnh định kỳ hàng năm. Đối với khu vực Tây Nguyên, Trung tâm Truyền hình Việt Nam tại Đà Nẵng đã phối hợp với các tỉnh tổ chức định kỳ liên hoan dân ca-dân vũ cả 5 tỉnh hàng năm từ năm 2002 đến nay.
Cùng với đàn T'rưng, Klông Pút, Đinh Túk, cồng chiêng là loại nhạc cụ phổ biến, đặc trưng nhất của các dân tộc Tây Nguyên nói chung và Kon Tum nói riêng. Ngoài vai trò là phương tiện diễn tấu nghệ thuật, cồng chiêng còn thể hiện quyền uy, sự giàu sang của mỗi gia đình, dòng tộc, bản làng, là vật thiêng trong tín ngưỡng của các dân tộc Tây Nguyên, thành tố đặc trưng của văn hóa Tây Nguyên.
Cồng chiêng và nghệ thuật diễn tấu cồng chiêng của đồng bào các dân tộc Kon Tum rất đa dạng, phong phú. Có rất nhiều bài chiêng được đồng bào sáng tạo ra còn lưu truyền đến ngày nay vô cùng đặc sắc. Thông thường, cồng đảm nhiệm phần đệm và giữ nhịp, chiêng đảm nhận phần giai điệu. Đặc điểm chung, nổi bật của dàn cồng, chiêng là sự kết hợp linh hoạt những âm thanh cao, thấp, tạo nên sự phối bè khác nhau. Kết hợp với cồng, chiêng có cả trống, lục lạc, chuông đồng... tạo nên sự hoà âm phong phú. Quyện hoà trong tiết tấu, giai điệu của cồng chiêng là những âm thanh của rừng đại ngàn, của suối reo, thác chảy; là màu sắc của nắng, của gió, của đất; là tâm hồn mộc mạc, chân thành, khoáng đạt của đồng bào các dân tộc thiểu số.
Cồng chiêng là của cải, bởi bao giờ cồng chiêng cũng thể hiện ở một số thứ tài sản quý, một loại của cải vật chất mà từ nó có thể phân biệt được sự giàu nghèo, gia đình nào cũng mơ ước có được một bộ cồng chiêng. Tất nhiên, số lượng bộ chưa nói hết được, quan trọng ở chỗ nó là chiêng gì. Bởi vì có loại chiêng chỉ ngang giá một vài con trâu (thời giá hiện nay khoảng vài ba triệu đồng) nhưng cũng có loại chiêng giá trị tới 30-40 con trâu một bộ. Có nhiều chiêng quý là giàu có, là sức mạnh, được người khác kính trọng. Dòng họ, làng nào có nhiều cồng chiêng sẽ được các dòng họ, làng khác nể nang, nghe theo. Già làng ở Làng ấy có thể được tôn lên làm già làng cho cả một vùng (liên làng - nhiều dân tộc gọi T’ring) và ngược lại.
Cồng chiêng là một nhạc khí dân gian bởi độ vang, cao thấp, khả năng diễn tấu của nghệ nhân, nghệ thuật tạo âm sắc của nó. Người thì xếp cồng chiêng vào bộ gõ, người thì cho rằng cồng chiêng là loại tự thân vang, kích âm trực tiếp bằng dùi. Cấu tạo thang âm, điệu thức một bộ chiêng có nhiều điểm khác nhau. Có bộ chỉ gồm 2 chiếc cho đến bộ đầy đủ lên tới 15 hoặc 18 chiếc. Ở những bộ chiêng như thế có cồng (loại có núm thường giữ chức năng đệm và chiêng là loại không có núm, còn gọi là chiêng bằng thể hiện bài bản, giai điệu ). Dù ít hay nhiều thì cách trình diễn truyền thống phải mỗi người một cái. Trong âm nhạc, người ta gọi là dàn chiêng.
Cồng chiêng gắn liền với lễ hội mà lễ hội dân gian của các dân tộc bản địa ở Kon Tum khá dày, diễn ra quanh năm với chu kỳ sinh trưởng của cây lúa rẫy, chu kỳ một đời người và những sự việc liên quan tới cộng đồng (plei). Cồng chiêng có khả năng trình diễn độc lập, nhưng cũng có thể kết hợp với nhiều loại nhạc khí khác, kể cả giọng hát của con người. Nếu lễ hội dân gian quy tụ được rất nhiều loại hình nghệ thuật trình diễn, trong đó có cồng chiêng thì khi cồng chiêng lên tiếng sẽ thu hút sinh hoạt của nhiều người nhất, nghệ thuật âm nhạc của cồng chiêng cũng chiếm thời lượng nhiều nhất trong lễ hội. Chưa thấy một lễ hội dân gian nào vắng mặt cồng chiêng dù ở quy mô nhỏ như gia đình hoặc lớn hơn là của cả cộng đồng. Có thể nói, cồng chiêng giữ một vị trí đặc biệt quan trong trong đời sống tinh thần của đồng bào các dân tộc bản địa.
Cồng chiêng là vật thiêng bởi tất cả các loại chiêng thiêng đều được con người gửi gắm tâm linh vào đó. Với tín ngưỡng dân gian đa thần, vạn vật hữu linh nên chiêng thiêng đều có Yàng (trời) trú ngụ, chỉ được đưa ra sử dụng trong phần lễ của những lễ hội lớn, long trọng. Ở phần hội hoặc sinh hoạt thường ngày, họ sử dụng các loại chiêng khác. Những loại chiêng thiêng ở Kon Tum có thể kể tới Lào viêng (nhóm Hà Lăng), Xteng (Xơ đăng gốc), Kh’leng và Xum (nhóm Giẻ), Pom, pát (Giarai Aráp), Buar( Xơ Đăng Sơ đrá), Tha (B'Râu)...Cồng chiêng đóng vai trò vô cùng quan trọng trong đời sống văn hóa tinh thần của đồng bào các dân tộc thiểu số Kon Tum. Cồng chiêng là loại nhạc cụ nghi lễ, được sử dụng trong các dịp lễ hội, là thành tố cơ bản để tạo nên lễ hội. Với con người, từ lễ thổi tai của trẻ sơ sinh đến lễ bỏ mả; với cây lúa, từ lễ bói điềm, chọn đất đến thu hoạch, đóng cửa kho; với cộng đồng, từ lễ tu sửa máng nước đến mừng Nhà Rông mới... bất cứ lễ hội nào cũng không thể vắng bóng cồng chiêng, ứng với mỗi hoàn cảnh ấy là một bài chiêng khác nhau, và ngay trong lễ hội, các bài chiêng cũng đánh theo tiết tấu, nhịp điệu khác nhau, tuỳ theo không khí chung của lễ hội.
Nhạc cụ dân tộc ởKon Tum cũng như các tỉnh trong khu vực, đều được chế tác từ các loại chất liệu của núi rừng như tre, nứa, gỗ, vỏ bầu, sừng, da động vật…song cực kỳ phong phú, đa dạng và độc đáo do các thế hệ nghệ nhân các dân tộc thiểu số sáng tạo ra để phục vụ đời sống tinh thần. Có rất nhiều loại nhạc cụ khác nhau song cơ bản thuộc về các bộ gồm : Bộ gõ : đây là loại phong phú nhất với rất nhiều nhạc cụ, tiêu biểu là cồng chiêng (chất liệu đồng), đàn Tơ Rưng, trống các loại (chất liệu tre, nứa, gỗ, da)…Bộ hơi : tiêu biểu như đàn KlôngPut, Đinh Tuk, Đinh Pú, các loại sáo, các loại khèn (chất liệu tre, nứa), Tù và (sừng động vật), kèn lá…Bộ gảy dây : tiêu biểu như đàn Ting ning, đàn Goong (vỏ quả bầu), đàn M’bin (chất liệu gỗ)…
Dù bằng một ống nứa, thanh tre, quả bầu hay nhiều ống nhiều thanh ghép lại thì các loại nhạc cụ dân gian đều rất độc đáo, do bàn tay tài hoa của các nghệ nhân dân tộc thiểu số chế tác ra và được trao truyền kỹ năng từ đời này sang đời khác và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong hoạt động văn hóa dân gian phục vụ đời sống tinh thần hàng ngày của đồng bào. Mỗi nhạc cụ đều đi kèm với một câu chuyện diễn giải sự ra đời của nó. Có những loại chỉ sử dụng ở lễ hội, lễ thức cộng đồng, có loại chỉ đánh trên nương rẫy, có loại là phương tiện để bày tỏ tình yêu đôi lứa, có loại vừa để giải trí vừa để xua đuổi thú rừng…Qua khảo sát điền dã ở các bản làng và quan sát tại các liên hoan, hội thi nhạc cụ dân gian dân tộc thiểu số của Kon Tum cho thấy nó được bảo tồn, trao truyền và phát huy giá trị thực tiễn trong đời sống với sự tham gia của mọi lứa tuổi. Hiện nay, đến bất cứ bản làng nào, tộc người nào cũng đều hiện hữu vài ba loại nhạc cụ dân tộc thường xuyên được sử dụng phục vụ sinh hoạt cá nhân, gia đình và cộng đồng.
Ở Kon Tum khá phong phú, nghề nào cũng có ở các bản làng. Nghề rèn có ở tộc người Xơ Đăng Sơ ĐRá, nghề gốm có ở tộc người Ba Na, nghề đẽo khắc gỗ có ở người Gia Rai A Ráp, Ba Na Rơ Ngao với đặc trưng là tượng nhà mồ, thuyền độc mộc và các loại hoa văn chạm khắc trên nhà Rông. Dệt thổ cẩm, trang phục với các hoa văn độc đáo và màu sắc hài hòa ở các tộc người Ba Na, Giẻ Triêng, Gia Rai, Xơ Đăng Hà Lăng...
Khi nói về bản sắc văn hóa truyền thống các dân tộc Tây Nguyên, đầu tiên bao giờ người ta cũng đề cập đến nhà Rông như là một biểu tượng đầy đủ nhất của văn hóa vùng Tây Nguyên. Tuy nhiên chỉ có Kon Tum và Gia Lai mới được xem là cái nôi của nhà rông - một di sản văn hóa đặc trưng của các dân tộc bản địa.
Theo tâm niệm của đồng bào các dân tộc thiểu số, đã có làng là phải có nhà rông. Làng nào không có nhà rông thì làng đó thiếu sức sống cội nguồn. Theo tư duy truyền thống của đồng bào các dân tộc thì nhà rông là một thành tố không thể thiếu trong đời sống cộng đồng (văn hóa làng). Nhà rông bao quát mọi tinh hoa văn hóa sáng tạo của con người trong môi trường sinh thái tự nhiên, vừa hùng vĩ vừa tiềm ẩn những yếu tố tâm linh, là biểu hiện của văn hóa rừng và sự cố kết cộng đồng người gắn với thiên nhiên.
Nhà rông là hình ảnh thu nhỏ của các thành tố văn hóa truyền thống của một làng, một tộc người. Nó chiếm giữ vị trí quan trọng nhất trong tư duy và hiện thực đời sống sinh hoạt của tất cả các thành viên trong cộng đồng. Đối với cộng đồng các dân tộc thiểu số thì “Dân tộc-Làng-Nhà rông” là mối quan hệ không thể tách rời, cũng như làng của người Kinh gắn với cây đa, bến nước, sân đình. Nhà rông hùng vĩ vươn lên bầu trời với hình dáng như một lưỡi búa khổng lồ biểu hiện sức mạnh của một cộng đồng làng, thể hiện tinh thần thượng võ, đầy quyền uy, như là chế ngự không gian và thời gian để khẳng định chủ quyền, lãnh địa của làng. Nhiều người hay dùng hình ảnh ngôi nhà rông ở giữa làng với hàng chục nóc nhà vây quanh như gà mẹ chăm đàn gà con, thể hiện sự quây quần, đầm ấm cố kết cộng đồng. Nhà rông thể hiện đỉnh cao về nghệ thuật và kỹ thuật với kiến trúc, kiểu dáng, chất liệu và hoa văn họa tiết vô cùng phong phú và độc đáo, không sử dụng bất kỳ cái đinh, cọng kẽm hay tấc sắt nào cả nhưng lại vững chắc như bàn thạch.
Một loại hình văn hóa dân gian hết sức quan trọng trong đời sống cộng đồng của cư dân Kon Tum đó là Lễ hội. Lễ hội của các tộc người ở Kon Tum là lễ hội nguyên hợp, bao giờ cũng xuất phát từ yếu tố thiêng – nghi thức tế lễ, hiến sinh để mong đổi lại sự bình yên và no đủ. Khi các hành động đó cảm thấy được chứng giám thì ở mỗi con người như được cởi mở, thăng hoa. Sự thăng hoa đó được cộng cảm tạo thành không khí của lễ hội. Hội là hệ quả của lễ. Không có lễ thì không có hội, nhưng không phải lễ nào cũng thành hội. Có lễ chỉ là lễ, chỉ khi nào lễ tạo được niềm hứng khởi, náo nức, lan tỏa khắp các thành viên của cộng đồng, tâm trạng đó phải quy tụ thành niềm vui chung cần được giải tỏa thông qua các hành động biểu cảm. Không gian, tâm trạng của lễ nhanh chóng nhường chỗ cho hội. Xuất phát từ các yếu tố mùa vụ và tín ngưỡng đa thần, con người luôn tổ chức các nghi lễ cầu xin Jàng trợ giúp và mang lại điều tốt lành cho con người, cộng đồng. Trong quá trình này, người ta tiến hành các nghi thức tế, lễ theo quan niệm, cách thức riêng của từng tộc người, nhưng mang một ý niệm chung về dâng lễ (lễ vật) hay hình thức trao đổi (hiến sinh). Vật hiến sinh thường là trâu, bò, heo, dê, gà… hình thức này mạnh mẽ và ấn tượng nhất qua hành động đâm trâu trong lễ hội. Qua đó, con người cảm thấy như đã yên tâm ở sự trao đổi, được siêu thoát khỏi những ám ảnh cá nhân, được chứng giám lòng thành của bản thân bằng quan niệm của sự tín ngưỡng mang tính huyền bí, đời sống tâm linh, tinh thần được cởi mở trút bỏ những nỗi ám ảnh, họ hứng khởi, thăng hoa, vui chơi nhảy múa tạo ra không khí của lễ hội. Lễ hội của các dân tộc thiểu số ở Kon Tum chỉ diễn ra ở cộng đồng làng và hộ gia đình, gắn với văn hóa làng, qui mô nhỏ.
Sự phong phú, độc đáo của văn hóa dân gian các dân tộc thiểu số Kon Tum thể hiện ở chỗ, có nhiều thể loại khác nhau, nhiều hình thức thể hiện khác nhau, đậm đặc cả trong văn hóa vật thể và phi vật thể. Đấy chính là sự sáng tạo vô cùng tuyệt vời và quí giá của các thế hệ nghệ nhân dân gian các dân tộc thiểu số làm nên bản sắc văn hóa đặc thù tự phục vụ đời sống tinh thần của chính mình, được trao truyền từ đời này sang đời khác và trường tồn cùng với thời gian.
Trích: kontum.gov.vn
Giai đoạn từ năm 2001 đến 2010, cơ cấu kinh tế của tỉnh Kon Tum có sự chuyển đổi mạnh mẽ và đạt được những bước tiến cơ bản. Trong đó, ngành công nghiệp và xây dựng chiếm 32%, nông, lâm nghiệp đạt 25%, và ngành dịch vụ chiếm 43%. GDP bình quân đầu người đạt 507 USD, tổng nhu cầu vốn đầu tư trong suốt giai đoạn này đạt 476,6 triệu USD. Đến năm 2010, tổng giá trị xuất nhập khẩu đạt 70 triệu USD. Cùng năm, tỉnh đón tiếp khoảng 50.000 lượt khách du lịch, trong đó có 10.000 khách quốc tế.
Năm 2012 đánh dấu năm thứ hai triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Kon Tum lần thứ XIV. Tốc độ tăng trưởng kinh tế của tỉnh đạt 13,77%, cao hơn mức bình quân cả nước. Cụ thể, ngành nông - lâm - thủy sản tăng 7,3%, công nghiệp và xây dựng tăng 17,49%, ngành dịch vụ tăng 18,34%, và chỉ số giá tiêu dùng tăng 9,88%. Tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt 1.632,2 tỷ đồng, vượt 0,5% so với kế hoạch đề ra. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 38,2%, đồng thời tỉnh đã tạo việc làm cho khoảng 6.200 lao động, góp phần giảm tỷ lệ thất nghiệp xuống dưới 5%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 22,12 triệu đồng, và tỷ lệ hộ nghèo giảm còn 22,77%.
Đến cuối năm 2012, toàn tỉnh có 13.794 hợp tác xã, tăng 504 hợp tác xã so với năm 2011. Doanh thu bình quân của các hợp tác xã đạt 1,74 tỷ đồng mỗi hợp tác xã/năm, và lợi nhuận bình quân đạt 370,87 triệu đồng/hợp tác xã/năm. Thu nhập bình quân của các xã viên hợp tác xã ước đạt 18,26 triệu đồng mỗi xã viên/năm. Trong khi đó, thu nhập của lao động thường xuyên trong các hợp tác xã và Liên hiệp hợp tác xã ước đạt 17,83 triệu đồng mỗi lao động/năm.
Tỉnh Kon Tum đã chú trọng phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn và các sản phẩm chủ lực như Sâm Ngọc Linh, rau hoa xứ lạnh, nuôi cá tầm, cá hồi... gắn với việc tìm kiếm thị trường tiêu thụ. Tỉnh đặt mục tiêu đến năm 2013, thu ngân sách nhà nước đạt trên 1.830 tỷ đồng và kim ngạch xuất khẩu đạt trên 100 triệu USD.