Chưa có nhà xe nào tại Tuyên Quang
STT
|
Tên loại dữ liệu
|
Thông tin
|
1 | Mã bưu chính | 22000 |
2 | Biển số xe | 22 |
3 | Mã Vùng | 207 |
4 | Diện tích (km2) | 5867,95 |
5 | Dân số trung bình (Nghìn người) | 805,78 |
Số liệu theo năm 2022
|
||
Tuyên Quang là tỉnh thuộc vùng Đông Bắc Bộ của Việt Nam.
Tính đến năm 2018, Tuyên Quang là tỉnh đông dân thứ 53 tại Việt Nam, đứng thứ 54 về Tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP), và xếp thứ 55 về GRDP bình quân đầu người. Tuy nhiên, tỉnh lại đứng thứ 30 về tốc độ tăng trưởng GRDP. Với dân số khoảng 780.100 người, tỉnh có GRDP đạt 28.084 tỷ đồng (tương đương 1,2197 tỷ USD), GRDP bình quân đầu người là 36 triệu đồng (khoảng 1.564 USD), và có tốc độ tăng trưởng GRDP đạt 8,04%.
Tuyên Quang có vị trí địa lý đặc biệt:
Trung tâm hành chính của tỉnh là Thành phố Tuyên Quang, cách trung tâm Hà Nội khoảng 131 km.
Tuyên Quang nằm ở trung tâm của lưu vực sông Lô. Sông Gâm chảy qua tỉnh theo hướng Bắc – Nam và nhập vào sông Lô tại khu vực Tây Bắc huyện Yên Sơn, nơi giáp ranh giữa thị trấn Yên Sơn, xã Phúc Ninh và xã Tân Long.
Tính đến ngày 1 tháng 4 năm 2019, tỉnh Tuyên Quang có tổng cộng 6 tôn giáo với 42.761 tín đồ. Trong đó, tôn giáo lớn nhất là Công giáo với 25.626 người, tiếp theo là Đạo Tin Lành với 10.996 người, và Phật giáo có 6.116 người. Ngoài ra, còn có một số tín đồ các tôn giáo khác như Hồi giáo (13 người), Phật giáo Hòa Hảo (6 người) và Đạo Cao Đài (4 người).
Về diện tích, Tuyên Quang có diện tích 5.868 km², đứng thứ 25 cả nước. Dân số tỉnh đạt 784.811 người vào năm 2021, xếp thứ 53 cả nước, với mật độ dân số trung bình khoảng 137 người/km². Trong đó, 13,88% dân số sinh sống tại khu vực đô thị và 86,12% còn lại sống ở nông thôn. Đến năm 2022, dân số tỉnh đạt 805.782 người, với mật độ dân số là 137 người/km², trong đó dân số thành thị là 120.543 người, chiếm 14,96%.
Năm 2023, dân số thường trú của Tuyên Quang là 812.215 người, với mật độ dân số đạt 138 người/km². Tỉnh có sự đa dạng về dân tộc, với sự sinh sống của 22 dân tộc anh em.
Tuyên Quang nổi tiếng với nhiều đặc sản, ẩm thực độc đáo, gồm các món ăn đặc trưng như: bánh nếp nhân trứng kiến, hồng ngâm Xuân Vân, rượu ngô men lá Na Hang, chè Kia Tăng, gà đỏ Đồng Dầy, cam Hàm Yên, rau dớn, mắm cá ruộng Chiêm Hóa, bánh dày vừng đen Lâm Bình, lê nâu Khâu Tràng, cơm lam, phở chua Tuyên Quang, bánh gai Chiêm Hóa, thịt trâu Hùng Mỹ, ngô nếp Soi Lâm, chả ốc ống nứa, lạp xưởng Na Hang, gỏi cá bỗng, hoa chuối nấu chân giò, na dai Lực Hành, thịt muối chua, bánh củ chuối Yên Lập, nhộng cọ Chiêm Hóa, bánh đúc Đà Vị, xôi màu Lâm Bình, mía, bánh chuối Na Hang, rau hôi, cà gai leo Hợp Hòa, gà Tân Tạo, bưởi Soi Hà, cốm Côn Lôn, măng vầu, thịt gác bếp Lâm Bình, hoa kè nhồi thịt, chè Khau Mút, rau bò khai, cháo ỉm Sơn Dương, gạo nếp Khẩu Láng, bánh lẳng Chiêm Hóa, rêu đá, vịt bầu Minh Hương, rượu chuối Kim Bình, măng nứa, măng khô, nhãn Bình Ca, lợn đen Lăng Can, chè xanh, cọ ỏm Chiêm Hóa, lạc Thổ Bình, giảo cổ lam Lâm Bình.
Tuyên Quang là một tỉnh miền núi với nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông-lâm nghiệp, trong đó mô hình kinh tế trang trại kết hợp giữa nông nghiệp và lâm nghiệp được áp dụng rộng rãi. Trong bảng xếp hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh của Việt Nam năm 2011, Tuyên Quang xếp ở vị trí thứ 56/63 tỉnh thành.
Lúa là cây lương thực chính của tỉnh, theo sau là ngô, sắn và khoai lang. Các cây công nghiệp chủ yếu gồm chè (với các nhà máy chè Tuyên Quang, Tháng Mười, Tân Trào), cây sả dùng để làm tinh dầu sả, lạc, đậu và tương. Các loại cây ăn quả phổ biến là cam, quýt, nhãn, vải và chanh. Ngành chăn nuôi của tỉnh có trâu, bò, lợn, dê và gia cầm.
Tỉnh Tuyên Quang có nguồn tài nguyên khoáng sản phong phú, bao gồm quặng kẽm, quặng mangan, quặng thiếc, bột kẽm và ăntimoan. Ngành công nghiệp của tỉnh cũng phát triển mạnh với các nhà máy sản xuất giấy, bột giấy, xi măng và vôi.
Tuyên Quang còn có các nhà máy thủy điện lớn, trong đó có Nhà máy Thủy điện Tuyên Quang, chính thức đi vào hoạt động từ ngày 30 tháng 1 năm 2008, với công suất thiết kế đạt 342 MW. Nhà máy Thủy điện Chiêm Hóa, với công suất lắp máy 48 MW, được hoàn thành vào tháng 3 năm 2013.